Xung đột quyền lợi trong tập đoàn
Theo TS Lê Văn Hưng (Trưởng khoa Luật - ĐH Kinh tế TPHCM), cho đến nay chúng ta vẫn chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh một cách đầy đủ và tập trung về mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN). Dù nhiều văn bản đã được ban hành trong thời gian qua nhưng các quy định pháp luật về mô hình TĐKTNN vẫn còn tản mạn, thậm chí mâu thuẫn.
Có thể nói TĐKTNN ở nước ta hiện nay là mô hình pha trộn giữa quy định về tập đoàn theo những lý thuyết và nguyên tắc cơ bản với những quy định về tổ chức quản lý tổng công ty nhà nước tồn tại từ trước đến nay. Cụ thể hơn, công ty mẹ-tập đoàn thì chịu sự điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp nhà nước còn các công ty con thì hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Điều này đã tạo nên tình trạng “lệch pha” trong tổ chức quản lý và điều hành cũng như xác lập mối quan hệ công ty mẹ-công ty con và gây ra nhiều lúng túng trong chỉ đạo và điều hành.
Chính vì thiếu khung pháp lý rõ ràng nên hoạt động của các TĐKTNN bộc lộ nhiều bất cập. TS Trương Quang Thông (Khoa Ngân hàng-ĐH Kinh tế TPHCM) cho rằng với xu hướng thành lập các tổng công ty trực thuộc TĐKTNN thì khả năng đầu tư trùng lắp giữa các tổng công ty trực thuộc rất dễ xảy ra. Đây sẽ là nguồn cơn cho các xung đột quyền lợi xảy ra trong nội bộ tập đoàn. Bên cạnh đó, chuyện phân phối lợi tức và tái đầu tư cũng có nhiều vấn đề.
TĐKTNN gần như có toàn quyền rộng rãi trong các quyết định đầu tư mới của mình nhưng vai trò và thể chế điều tiết các chính sách tài trợ hay phân phối hoặc là chưa thấy rõ, hoặc là còn lệ thuộc vào các quy định đã có trước khi các TĐKTNN ra đời!
Chẳng hạn, các doanh nghiệp cổ phần hóa trực thuộc TĐKTNN nhưng chính sách trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi vẫn phải áp dụng Nghị định 199 về quy chế quản lý tài chính của các công ty nhà nước! Ngoài ra, phần lớn các TĐKTNN đều có đầu tư vào những lĩnh vực “tay trái” với tư tưởng cố gắng “tiêu” cho hết tiền mà mình được hưởng theo cơ chế! Hiện tượng này sẽ gây ra hiểm họa tài chính khó lường.
Đầu tư công: chất lượng kém
Đại diện cho nhóm nghiên cứu của Khoa Tài chính-ĐH Kinh tế TPHCM, PGS-TS Sử Đình Thành cho biết, giai đoạn 1997-2007, chi đầu tư phát triển chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi ngân sách nhà nước (NSNN). Bình quân giai đoạn này chiếm 35,1% tổng chi NSNN và tăng dần theo thời gian, từ 34% giai đoạn 1997-1999 lên 40,5% trong năm 2002… Tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP cũng lớn hơn tỷ lệ bội chi NSNN trên GDP, 7,54% so với 4,57%.
Tuy nhiên, nếu cộng thêm nguồn vốn ODA và nguồn phát hành trái phiếu để đầu tư vào các chương trình mục tiêu từ năm 1997 đến nay thì tỷ lệ đầu tư công chiếm hơn 20% GDP! Thế nhưng, tương phản với con số khổng lồ của nguồn vốn, chính sách đầu tư công bộc lộ nhiều bất cập, cùng với đó là tình trạng tham nhũng phổ biến trong đầu tư công.
Do quản lý ngân sách đầu tư công thiếu mối liên kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển KT-XH trung hạn với nguồn lực trong một khuôn khổ kinh tế vĩ mô nên tình trạng đầu tư công tràn lan ngày một gia tăng. Đi đôi với đó là thiếu minh bạch và thiếu tính trách nhiệm. Nghiêm trọng nhất là ở quyết định đầu tư, tình trạng đầu tư sai mục đích, vượt thẩm quyền gây thất thoát lớn còn khá nhiều. Bên cạnh đó, chính sách đầu tư gần như “chăm chăm” chi cho đầu tư mới mà xem nhẹ việc bảo dưỡng, vận hành để khai thác có hiệu quả các dự án. Từ năm 1997 đến năm 2006, tỷ lệ chi cho công tác này so với tổng chi NSNN liên tục giảm sút, năm 1997 là 23,4%, 1999 là 19,1%, 2006 chỉ còn 16,5%...
Ở góc độ cụ thể hơn, PGS-TS Trần Hoàng Ngân và Th.S Đinh Thế Hiển (nhóm nghiên cứu kinh tế vĩ mô-ĐH Kinh tế TPHCM) cho rằng đầu tư công trong giai đoạn hiện nay và sắp tới phải tập trung vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Thế nhưng, thời gian qua đầu tư vào mảng này đạt kết quả rất hạn chế do công tác quản lý đầu tư được giao cho các ban quản lý dự án và tổng công ty nhà nước hoặc các công ty công ích. Các đơn vị này thực chất chỉ là người thi hành chứ không phải tổ chức vốn. Do vậy, để đảm bảo hiệu quả cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì nên giao việc triển khai đầu tư cho các tổ chức tài chính hoặc các công ty có tiềm lực tài chính mạnh và khả năng quản lý vốn tốt.
HOÀNG LIÊM
0 comments:
Post a Comment