Sau hội nghị tháng 11 năm 1939 của Trung ương Đảng đánh dấu bước chuyển hướng chỉ đạo tập trung vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc, chống đế quốc chiến tranh, Đảng đã có lời kêu gọi thống thiết: “Anh chị em đồng bào! Dân tộc chúng ta đương ở vào tình thế một còn, một mất. Dòng dõi tinh anh của Trưng Vương, Triệu Ẩu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng... dân tộc Việt Nam hãy mau mau đoàn kết lại, thống nhất Trung Nam Bắc... dưới ngọn cờ Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương,... ra sức tranh đấu chống đế quốc chiến tranh và giải phóng các dân tộc Đông Dương khỏi ách đế quốc Pháp.
Chỉ có chiến tranh giải phóng các dân tộc mới thực sự là chiến tranh vì công lý tự do...”.
Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ là sự hưởng ứng lời kêu gọi đó. Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ nhằm giành độc lập cho dân tộc kết hợp chống thực dân Pháp vơ vét tiền bạc của cải của dân ta và đưa dân ta đi làm bia đỡ đạn trong cuộc tranh chấp biên giới giữa Pháp và Thái Lan (do Nhật xúi giục).
Từ lúc giặc Pháp xâm lược nước ta năm 1858 đến trước cuộc tổng khởi nghĩa năm 1945, cuộc khởi nghĩa Nam kỳ nổ ra từ giữa đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11 cho đến ngày 31 tháng 12 năm 1940 là cuộc khởi nghĩa có quy mô rộng lớn và mạnh mẽ nhất.
Ngoại trừ các trung tâm đô thị Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và các tỉnh lỵ có đề ra kế hoạch đánh chiếm nhưng không thành vì bị lộ, địch chặn trước, ở 20 tỉnh có 75 quận thì đã có 38 quận đã nổi dậy. Ở hai quận, như quận Vũng Liêm (Vĩnh Long) Trưởng quận chạy trốn, nghĩa quân chiếm giữ quận lỵ 8 giờ, ở Cái Ngang (Tam Bình) nghĩa quân làm chủ đến 12 ngày, và ở quận Hóc Môn (Gia Định), Trưởng quận trốn lên lầu lô cốt cố thủ, nghĩa quân chiếm quận lỵ hơn 4 giờ.
Trong số 899 làng của 20 tỉnh, có 304 làng thực sự nổi dậy, trong đó có 144 làng nghĩa quân đã giành được quyền làm chủ với nhiều mức độ khác nhau. Tại một số quận thuộc tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long... hầu như tất cả các làng đều nổi dậy khởi nghĩa.
Tuy nghĩa quân chưa giành được quyền làm chủ ở tỉnh lỵ, nhưng riêng tỉnh Mỹ Tho chính quyền cách mạng đã ra mắt ở Long Hưng, đã lập tòa án xét xử những người chống cách mạng. Chưa bao giờ hệ thống cai trị ở nông thôn của Pháp lại bị tan rã như trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ.
Cuộc khởi nghĩa, do chưa đủ điều kiện khách quan chủ quan chín muồi nên tạm thời đã bị thất bại, nhưng đã để lại những trang sử hào hùng chói lọi trong lịch sử cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta, đặc biệt là hình ảnh Đảng gắn bó với dân, cùng chiến đấu cùng hy sinh, nên khởi nghĩa thất bại mà dân vẫn một lòng tin yêu Đảng.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 8 năm 1941 do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã cho rằng, “những cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương đã gây ảnh hưởng rộng lớn trong toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc Đông Dương”.
Lòng yêu nước, ý chí quật cường bất khuất của các chiến sĩ khởi nghĩa Nam kỳ, cũng đã có tiếng vang lớn ở chính quốc. Tháng 12 năm 1940 Đảng Cộng sản Pháp đã gửi thư ca ngợi chân tình và bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ của mình:
“Trong giờ phút mà bọn đế quốc dã man chuẩn bị một cuộc chiến tranh toàn diện khốc liệt giết hại từ đứa trẻ sơ sinh cho đến những người chiến sĩ đang chiến đấu, trong giờ phút đó, những người Cộng sản Pháp xin nói với các bạn rằng:
“Đảng Cộng sản Pháp luôn luôn đứng về phía các bạn!
Đông đảo quần chúng lao động Pháp đứng về phía các bạn!
…Chúng tôi cúi đầu trước vong linh những chiến sĩ tự do hy sinh hồi tháng 11 trước súng liên thanh của Decoux - Beaudouin, Pétain.
“Chúng tôi kính cẩn cúi chào những người anh hùng đó, và trước hết chào những anh chị em ruột thịt anh hùng, đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương...”.
Ngày 14-4-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh tặng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đội quân giải phóng, Đội quân du kích Bắc Sơn và Đội quân khởi nghĩa Nam bộ.
Tinh thần cảm tử cho dân tộc quyết sinh của các chiến sĩ khởi nghĩa Nam kỳ đã góp phần hun đúc lòng yêu nước nồng nàn, chí kiên cường dũng cảm cho Đảng ta, cho dân tộc ta để giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng 8, trong cuộc kháng chiến liên tục 30 năm dưới mưa bom bão đạn để đánh bại hết giặc Pháp đến giặc Mỹ, làm cho Tổ quốc Việt Nam ta được hoàn toàn độc lập thống nhất.
Khát vọng tự do độc lập của các chiến sĩ khởi nghĩa Nam kỳ, đã thôi thúc chúng ta tâm niệm: quyết giữ danh hiệu cao quý là “Người Việt Nam”, đời đời biết ơn, mãi mãi noi gương các anh hùng, liệt sĩ, quyết đem hết tinh thần và nghị lực để giữ vững nền độc lập đã giành được, phấn đấu làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
TRẦN TRỌNG TÂN